ASEAN cần làm gì để giảm sự phụ thuộc vào thực phẩm nhập khẩu?

Rate this post


BNEWSCác yếu tố như đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu và xung đột Nga-Ukraine đã làm trầm trọng thêm tình trạng mất an ninh lương thực toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, ASEAN cần giảm phụ thuộc vào nhập khẩu để “hạ nhiệt” những tác động của biến động thị trường toàn cầu đối với an ninh lương thực khu vực.
Trong khi lương thực chính của ASEAN là gạo, nhu cầu đối với lúa mì, đậu tương và ngô đã tăng lên trong thập kỷ qua mà các nước sản xuất trong khu vực không thể đáp ứng được. Đậu tương và ngô đã trở nên đặc biệt quan trọng như là nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cần thiết để hỗ trợ nhu cầu chăn nuôi tăng trưởng theo cấp số nhân. Để đáp ứng nhu cầu này, ASEAN cần nhập khẩu từ bên ngoài khối.
Tình trạng mất an ninh lương thực đã làm nổi bật tính dễ bị tổn thương của ASEAN đối với sự gián đoạn trong nhập khẩu lương thực. Một số quốc gia hiện đang ưu tiên sản xuất nội địa hóa và chuỗi cung ứng ngắn hơn, đáng tin cậy hơn. Ban Thư ký ASEAN ước tính rằng ASEAN đã nhập khẩu 61 tỷ USD hàng hóa nông nghiệp từ bên ngoài khối vào năm 2020.
Các nước ASEAN là một trong những nước nhập khẩu lúa mì lớn nhất thế giới và nhập khẩu một lượng đáng kể đậu nành và ngô. Điều này phản ánh việc ASEAN sản xuất không đủ lương thực chính của khu vực.
Trong khu vực, có sự khác biệt lớn về năng lực sản xuất gạo, lúa mì, đậu tương, ngô, dầu thực vật và chăn nuôi giữa các nước thành viên. Năm 2020, ASEAN sản xuất 46 triệu tấn ngô, 735.000 tấn đậu tương và 113.400 tấn lúa mì. Sản lượng ngô của ASEAN chỉ đáp ứng khoảng 75% nhu cầu của khu vực do sản lượng tương đối thấp so với các nước xuất khẩu ngô lớn ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Châu Âu.
ASEAN sản xuất ít hơn một phần mười nhu cầu đậu tương của mình. Sản xuất đậu tương ASEAN tập trung ở Indonesia, Myanmar, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Từ năm 2018 đến 2019, các nước thành viên ASEAN đã nhập khẩu khoảng 7,5 triệu tấn đậu nành làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi.
ASEAN chiếm 15% tổng lượng lúa mì nhập khẩu toàn cầu vào năm 2021. Phần lớn lúa mì nhập khẩu là từ Ukraine, do đó, xung đột ở Ukraine đã làm gián đoạn xuất khẩu lúa mì sang Đông Nam Á và khiến giá tăng vọt.
Indonesia là nước nhập khẩu lúa mì lớn nhất trong ASEAN. Năm 2021, Indonesia sẽ nhập khẩu lượng lúa mì trị giá 3,5 tỷ USD. Lúa mì nhập khẩu được sử dụng để sản xuất các loại lương thực chính của quốc gia, bao gồm mì, bánh mì và bánh nướng. Quốc gia này hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu lúa mì để làm lương thực và thức ăn chăn nuôi.
Gạo là lương thực chính duy nhất mà ASEAN sản xuất thặng dư. Năm 2020, ASEAN trồng 48 triệu ha lúa, thu hoạch 191 triệu tấn lúa. Sản lượng lúa gạo chiếm khoảng 66% tổng diện tích đất canh tác trong ASEAN. Tuy nhiên, nhiều nước ASEAN vẫn là nước nhập khẩu gạo ròng, trong đó Indonesia và Philippines nhập khẩu nhiều nhất.
Năm 2020, các nước ASEAN nhập khẩu tới 76,5% lượng gạo từ các nước thành viên ASEAN khác. Các nước ASEAN rõ ràng cần phải làm việc cùng nhau và phát triển một chiến lược phối hợp để giảm sự phụ thuộc của khu vực vào nhập khẩu lương thực. Sản lượng gạo tăng có thể giúp khu vực này trở thành nước xuất khẩu gạo ròng và củng cố vị thế của mình trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng an ninh lương thực khác.
Việc tăng sản lượng lúa sẽ đòi hỏi sự kết hợp của nhiều công nghệ thay đổi. Điều này bao gồm việc chuyển đổi sang canh tác lúa cải tiến công nghệ sinh học, tăng năng suất ruộng của các giống lúa ưa thích, cải thiện cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đầu vào và nâng cao kỹ năng quản lý trang trại. nhỏ bé. Tuy nhiên, diện tích lớn do sản xuất lúa và nhu cầu tăng sản lượng lúa đã làm dấy lên lo ngại về tác động môi trường.
Đất trồng đậu tương và lúa mì vẫn còn tương đối khan hiếm trong ASEAN, để lại khoảng cách lớn giữa sản xuất và nhập khẩu. Việc tăng diện tích và sản lượng cây trồng sẽ đòi hỏi một chiến lược phối hợp. Do đó, cần phải đầu tư đáng kể vào nông học trồng lúa mì và đậu tương nhiệt đới, bao gồm cả nhân giống và quản lý dịch hại cây trồng.
Các giống đậu tương và lúa mì mới cần được cung cấp nhanh chóng bằng cách áp dụng công nghệ nhân giống cải tiến và cải thiện quản lý dịch hại.
Thai PBS World kết luận rằng một sáng kiến ​​liên kết ASEAN có nguồn lực tốt có thể tăng khả năng phục hồi của các nguồn cung cấp lúa mì, đậu tương và ngô trong khu vực. Điều này sẽ cho phép ASEAN tận dụng đa dạng sinh học và các loại cây trồng bản địa chưa được sử dụng để giảm sự phụ thuộc vào lương thực và cây lương thực nhập khẩu.

Thuc Quyen

Leave a Reply

Your email address will not be published.